Showing posts with label Trần Kiêm Đoàn. Show all posts
Showing posts with label Trần Kiêm Đoàn. Show all posts

Wednesday, November 23, 2011

Thư của Thầy Trần Kiêm Đoàn gửi Thầy Đỗ trinh Huệ

Thầy Đỗ Trinh Huệ ơi,

Lâu lắm Thầy mới xuất hiện với anh em. Còn nhớ mẵi hồi tôi mới ra dạy Nguyễn Hoàng vào năm 1970, Thầy Huệ là phụ tá giám học chia thời khóa biểu cho giáo sư toàn trường. Chính tôi cũng như mấy thầy cô gốc Huế vẫn thường níu áo Thầy Huệ nhờ chia giờ dạy tránh ngày thứ Sáu để vào Huế được 3 ngày cuối tuần. Sau đó Thầy thuyên chuyển vô Huế đến bây giờ vẫn chưa gặp lại. Nhớ “những ngày xưa thân ái” quá Thầy Huệ hè!

Nhân được nhìn lại những hình ảnh của quý Thầy Cô và học sinh NH trong ngày Thầy Giáo 20-11 thật là đầy thú vị và cảm kích. Xin cám ơn Ban Tổ chức đã chuyển tiếp tin tức rất chu đáo.

Nhân tiện, rất cám ơn Thầy Huệ đã nhắc đến tên tác giả của 2 câu đối mà người ta đã gán cho Cao Bá Quát. Thầy Huệ dạy Pháp Văn đỡ rắc rối hơn tụi tui dạy Quốc Văn nhiều. Ngay như Cao Bá Quát (1809-1855) và Trần Tế Xương (1870-1909) đều là các tác giả thế kỷ 19 thế mà đều bị gán cho những bài thơ, câu đối tùy hứng của dân gian. Ngay như sử chép CBQ bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết trong cuộc khởi nghĩa Mỹ năm 1855, thế mà đời sau cũng gán CBQ đã làm 2 câu thơ: “Ba hồi trống giục đù cha kiếp; một nhát gươm thiêng đéo mẹ đời…” khi ra pháp trường. Hoặc “Một chiếc cùm lim chân có đế; ba vòng xích sắt bước thì vương…” Và theo các nhà văn học sử như Dương Quảng Hàm, Vũ Khiêu, Nguyễn Q Thắng, Hà Tiến Lãng, Đỗ Huy Dư… thì chung quanh 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi còn lại của CBQ thì còn có nhiều câu thơ và câu đối gán ghép cho tác giả "Tài Tử Đa Cùng Phú" nhiều khi ngớ ngẩn đến độ vô tình. Và cũng theo Hà T Lãng , ĐHD thì hai câu đối: “Nhà cỏ ba gian: Một thầy, một cô, một chó cái. Học trò dăm đứa: Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” là hai câu với ý nghĩa vụng về và chữ nghĩa dung tục, danh xưng bất nhất đến thế mà lại đem gán cho một bậc tài hoa như Cao Bá Quát là một sự xúc phạm. Nếu có ưng gán thì gán cho nhân vật tài hoa lãng tử ưa nghịch nghịch, tếu tếu như Trần Tế Xương còn có thể “OK” được!

Tôi đồng ý với quan điểm văn học nầy vì văn thơ CBQ hoàn toàn nặng tính biểu tương; chứ không hiện thực như TTX.

Thầy Huệ ơi!
Văn chương tự cổ vô bằng cớ nên nói ra còn lắm sự mắc mớ, tam sao thất bổn. Nhưng chuyện văn chương bát cổ là chuyện thiên hạ. Riêng anh em mình với tình đồng nghiệp và bằng hữu mà Thầy Huệ chịu khó nhắc nhở như rứa là TKĐ xin thành thật cám ơn vô cùng. Xin hẹn sang năm về Huế thăm anh Huệ sẽ tâm sự nhiều hơn nghe.
Xin kính lời thăm chị và gia đình.
Quý mến chúc tất cả quý Thầy Cô và Anh Chị Em trong đại gia đình NH sức khỏe và an lạc.

TK Đoàn

Sunday, November 20, 2011

MÁI ẤM NGUYỄN HOÀNG

Hôm nay là Ngày Nhà Giáo – 20-11-2011 – tại Việt Nam.

Mỹ lại chọn Ngày thứ Ba của tuần đầu tiên đủ 7 ngày (full week) trong tháng Năm làm Ngày Nhà Giáo hàng năm. Như năm nay thì Ngày Nhà Giáo Mỹ rơi vào ngày 3-5-2011. Theo tạp chí nổi tiếng Forbes thì khoảng từ 3 đến 5 nghìn học sinh, sinh viên Mỹ mới có một đứa biết Ngày Nhà Giáo (The Teachers’ Day)!

Lịch sử nhà giáo có mặt cùng với lịch sử loài người vì lịch sử văn minh của con người từ thượng cổ đến ngày nay là một quá trình “Dĩ học dũ ngu” – Lấy cái học để đuổi cái dốt – Xã hội càng có quy củ văn hiến cao chừng nào, thì khuynh hướng “tôn sư trọng đạo” càng được đề cao chừng đó. Đã có một thời, vị thế của người thầy giáo đứng trên cả cha mẹ – Quân, Sư, Phụ – đã trở thành giềng mối đạo lý của xã hội (tam cương).
Thế nhưng lịch sử xã hội con người từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, đều không hẹn mà gặp; không đấu tranh mà lại vô cùng “nhất trí” là đặt người Thầy giáo vào một vị thế vừa khiêm tốn, vừa mỉa mai đến xót xa. Đó là ở bất cứ ở xã hội nào và thời đại nào thì giới thầy giáo cũng được kính nể nhưng đời sống lại rất thanh bạch; hay nói bằng ngôn ngữ đại chúng là nghèo. Cái nghèo tuy không đến nỗi... rớt mồng tơi như cảnh “một thầy, một cô, một chó cái; học trò dăm đứa: nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” của Trần Tế Xương làm cụ đồ Nho gõ đầu trẻ; nhưng cũng đủ cho giới sĩ tử xưa nay nhắn nhe với nhau rằng: “Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách Khoa, Nông Lâm ngó xa, chuột chạy cùng sào mới vào Sư Phạm!”

Thế giới con người phải chờ cho đến khi có tới 6 tỷ người, đạt tới một trình độ văn mình khoa học kỹ thuật tiên tiến và một giềng mối nhân văn quy củ nhờ bao nhiêu nghìn năm thông qua phương tiện giáo dục và sự cống hiến thầm lặng của những triệu người thầy giáo mới nhận ra rằng: “Không thầy đố mầy làm nên”! Sự tưởng nhớ và ghi nhận vai trò người thầy giáo của toàn xã hội muộn màng tới năm 1994, lần đầu tiên cơ quan văn hóa giáo dục Liên Hiệp Quốc UNESCO mới chính thức chọn ngày 5 tháng 10 làm Ngày Thầy Giáo Quốc Tế (World Teachers’ Day: WTD). Mặc dầu trước đó, vào năm 1946, một tổ chức Liên Hiệp các Hội Đoàn Giáo Dục Thế Giới (Féderation International Syndicale des Enseignants: FISE) đã được thành lập tại Paris. Và sau đó, năm 1949, tại thủ đô Varsovie của Ba Lan FISE tu chính thêm một bản “Hiến Chương các Nhà Giáo”, nhưng tác dụng chẳng tới đâu vì ngọn lửa xâm lăng và thuộc địa của châu Âu đã làm mờ mịt chân trời trong sáng của giáo dục và lương tri nhân loại. Tại Việt Nam, ngày 20 tháng 11 năm 1982, ngày Nhà Giáo Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức với quy mô cả nước cho đến ngày nay.

Đâu cũng đã 45 năm trước, tôi vào trường Đại học Sư Phạm Huế không phải vì “chuột chạy cùng sào” nhưng tại chiến tranh đã gây nên biến cố gia đình, tôi phải bỏ trường Y để qua trường “Thầy”. Làm thầy thuốc không được thì làm thầy giáo. Trong 35 năm đứng trên bục giảng của hơn 10 trường, mỗi trường ghi dấu một chặng đời và kỷ niệm riêng. Những trường dạy giờ thời còn sinh viên như Phan Sào Nam, Bán Công, Bồ Đề Huế nay không còn nữa. Trường Hiền Lương Nghĩa Thục, Hải Lăng ngày mới hồi cư về Quảng Trị mù mịt gió Nam Lào; thầy cô giáo và học trò dạy, học và sống thêm được ngày nào hay ngày đó. Trường Nguyễn Tri Phương, Đồng Khánh Huế sau nơi còn, nơi đổi tên. Các trường Anh Ngữ trên bước đường lưu dân trong các trại Tỵ Nạn Hồng Kông, Philippines nay cũng đã hoàn toàn vắng bóng nhưng dấu vết ưu tư về một cuộc đời mới nơi đất khách thật nhiều. Những trường CRC, LPU, Sac-State ở Mỹ to lớn và sang trọng nhưng không có cái hơi hướm tình quê; lên lớp thèm được nói tiếng Việt như thèm nghe tiếng mẹ ở quê nhà. Nhưng trong hết thảy các trường, chỉ có trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị là thuộc vào hàng “đệ nhất chưa từng có”: Chỉ vỏn vẹn trong 5 năm dạy học ở Nguyễn Hoàng, tôi phải di chuyển tới 5 “trường” Nguyễn Hoàng khác nhau: (1) Nguyễn Hoàng Quảng Trị trước 1972; (2) Nguyễn Hoàng tản cư gởi tạm một số lớp vào trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng năm 1972; (3) Nguyễn Hoàng Non Nước, (4) Nguyễn Hoàng Hòa Khánh thời 1973; (5) Nguyễn Hoàng hồi cư về đồi cát Hải Lăng năm 1973, 1974.

Trong một đời đi dạy học, quý thầy cô giáo có mầy ai nếm trải được chút “sóng gió sân trường” sau những giờ soạn giáo án, chấm bài hay lên lớp như thầy trò Nguyễn Hoàng trong thế hệ tản cư và hồi cư thời 1972 của chúng tôi. Trên đồi cát Hải Lăng nhấp nhô những căn nhà tôn, gỗ tiền chế đơn sơ, ngày nóng hầm hập với gió Nam Lào; đêm lạnh rát mặt với gió cát Trường Sơn và đồi tràm không một bóng cây che chắn. Nhưng lại được gọi một cách rất “chảnh” là “Khu Thị Tứ Hải Lăng”! Có những đêm dài uống nước trà mất ngủ, trong một phòng học nào đó của trường Nguyễn Hoàng mới tạm xây trên đồi cát Hải Lăng, chúng tôi gom bàn học thành nhà trọ qua đêm. Các vị “chức sắc” trong ngành giáo dục Quảng Trị đều là lữ khách vì gia đình còn tản cư và tạm cư ở Huế, Đà Nẵng... chưa ai dám mang hết bầu đoàn thê tử về vùng đất khó. Giông bão chiến tranh đã lay đổ tận gốc rễ ngay cả niềm mơ ước bình thường là được về an cư lạc nghiệp ở đất nhà. Là thầy giáo Nguyễn Hoàng đầu tiên hồi cư sau 1972, tôi được phân công để phụ trách giảng dạy số học sinh Nguyễn Hoàng hồi cư sớm, phải ghi danh theo học tạm tại trường trung học Hải Lăng. Trường Nguyễn Hoàng mới chỉ vừa được xây xong nền trên đồi Khu Thị Tứ Hải Lăng. Đúng là người thầy giáo hồi cư mang tâm trạng “một chân bước ra, ba chân bước lại”. Những ngày đầu tiên hồi cư trong phập phồng lo sợ ấy, bàn chân đứng trên đất nhà, nhưng tâm lý “chạy loạn” cứ nhấp nhỏm theo từng tiếng bom đạn từ núi, biển vọng về. Từ chánh sự vụ sở học chánh, đến trưởng phòng, hiệu trưởng, giáo sư, nhân viên... đều cùng chung cảnh ngộ. Tôi còn nhớ hình ảnh quý thầy Thái Mộng Hùng, Lê Mậu Tâm, Hoàng Văn Liệu, Lê Hữu Thăng, Lê Hữu Nam, Nguyễn Bảo, Lê Văn Mãn trong căn nhà tiền chế của thầy Tâm. Chỉ có thầy Tâm và thầy Mãn là không hút thuốc nên được ưu tiên ăn kẹo gừng, uống nước trà... mệt nghỉ; trong lúc chúng tôi thì “khói lửa tưng bừng” chia nhau từng điếu thuốc!

Bởi cái tình Nguyễn Hoàng gắn bó với hoàn cảnh đa đoan trong một mảng lịch sử của đất nước và quê nhà bể dâu như thế nên cả thầy, cả trò, cả người dân Quảng Trị nông thôn cũng như thành thị, qua những thế hệ khác nhau đều nghĩ tới Nguyễn Hoàng như một Mái Ấm. Nguyễn Hoàng không chỉ đơn thuần là một cơ sở giáo dục và đào tạo tri thức mà còn là một biểu tượng trân quý của tinh thần và cuộc sống. Đó là tinh thần hiếu học “vắt đất ra chữ, vắt chữ ra người” trước những hoàn cảnh khó khăn, ngỡ như “sách vở ích gì cho buổi ấy!” của toàn vùng Quảng Trị, Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ... trong chiến tranh đầy khốn khổ. Bên cạnh vốn quý là tinh thần hiếu học cố hữu của người dân Quảng Trị, còn có tình nghĩa được thắp sáng và nâng lên như một đạo lý của tình người. Trong bao nhiêu năm Quảng Trị quặn mình trước những biến cố chiến tranh, thiên tai, dịch họa, trường Nguyễn Hoàng thường trở thành một nguồn an ủi thiết thân không phân biệt. Những công tác cứu trợ, từ thiện, xã hội xuất phát từ bàn tay và tấm lòng của thầy trò Nguyễn Hoàng đã nâng tầm cơm áo lên tình nhân ái, nghĩa đồng bào.

Sau năm 1972, trường Nguyễn Hoàng chỉ còn là một đống gạch vụn trong một thành phố Quảng Trị điêu tàn, tan hoang vì bom đạn. Thế nhưng, trường Nguyễn Hoàng vẫn không ngừng phấn đấu để tồn tại bằng mọi phương tiện và hình thức. Đến năm 1975 thì trường trung học Nguyễn Hoàng hoàn toàn mất hẳn chân đứng và mất tên trên vùng quê hương Quảng Trị. Sự mất mát nầy là một tiến trình khách quan khó tránh khỏi vì 2 lý do: Thứ nhất là vì nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng chưa được các trung tâm nghiên cứu lịch sử có thẩm quyền và các sử gia thời danh đánh giá đúng mức. Thứ hai là vì cơ sở vật chất của trường Nguyễn Hoàng cũ tại thành phố Quảng Trị tái thiết và hồi sinh không còn nữa.

Từ đó, trường Nguyễn Hoàng thành “Nỗi Nhớ Thiên Thu” như Milton Hessler nói trong thơ:

Em chỉ mất, hình hài không hiện hữu,
Nhưng thiên thu vạn đóa vẫn hồi sinh.

(The End of the World)


Sau năm 1975 ở Việt Nam và từ 1982 qua Mỹ được tiếp cận với ngành giáo dục, tôi chưa thấy một ngôi trường nào mất bóng, mất tên mà vẫn còn có một sức hút mãnh liệt đối với cựu học sinh và thầy cô giáo như trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị.

Khắp các tỉnh thành trong nước, những hình thức nhóm và hội ái hữu Nguyễn Hoàng có mặt khắp nơi và sinh hoạt thường xuyên. Ở ngoài nước, khắp các châu trên thế giới đều có các hội ái hữu Nguyễn Hoàng.

Từ năm 2005 cho đến 2011, bộ sách Trường Nguyễn Hoàng – Chân Dung và Kỷ Niệm đã xuất bản 10 tập, mỗi tập dày tới 6, 7 trăm trang, in ấn rất đẹp, bìa cứng, do cựu học sinh Nguyễn Hoàng Võ Thị Quỳnh và bằng hữu chủ trương biên tập quả là một “hiện tượng – phenomenon” quý hiếm đối với một ngôi trường đã mất tên. Ngoài ra, hằng năm ở ngoài nước, có ít nhất là 5 tờ báo Xuân của cựu thầy giáo và học sinh Nguyễn Hoàng phát hành trong dịp Tết Nguyên Đán.

Cao điểm của tinh thần “thương nhớ Nguyễn Hoàng” sau hơn 36 năm ngôi trường mất tên là cuộc họp mặt của cựu học sinh và thầy cô giáo Nguyễn Hoàng trên toàn thế giới được tổ chức tại Santa Ana, Nam California, Hoa Kỳ vào các ngày 1,2,3,4 tháng 9 năm 2011 với đông đảo thầy trò toàn cầu về tham dự.

Thế hệ “gạo cội” của Nguyễn Hoàng đang từng ngày nhường bước cho thế hệ con em sinh ra và lớn lên khi Nguyễn Hoàng đã mất bóng. Tâm thức “ái hữu” không phải là một khuynh hướng giữ tiếng, xưng tên nhưng phát xuất từ nguyên nhân sâu xa nhất là ước vọng bất tử của tình nghĩa. Xã hội con người càng phân hóa thì nhu cầu tâm lý hướng tới một biểu tượng “chung nhất – thuộc về” càng mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Tâm lý của thầy trò trường Nguyễn Hoàng không là một ngoại lệ.

Trong vài thập niên vừa qua, đã có nhiều ý kiến, đề nghị và nỗ lực vận động cho sự phục hồi tên trường Nguyễn Hoàng. Nhưng hầu hết mới chỉ hình thành qua tư thế cá nhân. Ngày nay, hoàn cảnh cụ thể có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho một sự chung sức tập thể để thỉnh nguyện lên các cơ quan và giới chức có thẩm quyền về vấn đề nầy:

- Thuận lợi thứ nhất về mặt danh xưng: Nhân vật Nguyễn Hoàng, vai trò của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã được các nhà lịch sử phân tích và đánh giá. Chúa Nguyễn Hoàng là một nhân vật lịch sử lớn, có công lao trong công cuộc mở mang bờ cõi tổ quốc về phía Nam. Căn cứ địa đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng là vùng đất Quảng Trị. Tên tuổi Nguyễn Hoàng gắn liền với Quảng Trị và xứng đáng được tổ quốc ghi công.

- Thuận lợi thứ hai về mặt tinh thần: Đó là tấm lòng thiết tha và tinh thần đoàn kết, kiên nhẫn của tập thể cựu học sinh Nguyễn Hoàng qua nhiều thế hệ. Nhu cầu “mái ấm Nguyễn Hoàng” đang dâng cao với thế hệ sau cùng của ngôi trường nầy đang còn nhiệt tình, xông xáo.

- Thuận lợi thứ ba về mặt vật chất: Sự tiếp tay, hỗ trợ nồng nhiệt của thế hệ đàn anh, đàn chị là một khả năng cụ thể cho thế hệ đàn em Nguyễn Hoàng; nếu tên trường được phục hồi trước khi khả năng đó lịm dần và sẽ không còn nữa.

- Thuận lợi thứ tư về mặt chính quyền: Đây là yếu tố quyết định để có thể biến “khả năng” thành hiện thực. Hơn 35 năm qua, các giới chức thẩm quyền đã có đủ thời gian nhìn lại để đánh giá. Mặt tích cực mang lợi lạc đến cho các hoạt động giáo dục tỉnh nhà, nếu tên trường Nguyễn Hoàng được phục hồi và tập thể “cựu” Nguyễn Hoàng nhiệt tình ủng hộ có thể hình dung được khá rõ ràng.

Trước một cận ảnh đầy thuận lợi như thế, nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam năm nay, xin đề nghị tập thể đại gia đình Nguyễn Hoàng trong cũng như ngoài nước cùng góp chung lời Thỉnh Nguyện phục hồi tên trường Nguyễn Hoàng trước khi chia tay không hạn kỳ theo phần số riêng của mỗi người.


Quý mến chúc quý Thầy Cô và hết thảy học sinh, sinh viên Việt Nam một Ngày Nhà Giáo tròn đầy tình Thầy, nghĩa Bạn, duyên Trường.

Bắc California, ngày 20-11- 2011

Trần Kiêm Đoàn

Saturday, September 24, 2011

NỖI NIỀM MẤT TÊN

Viết tặng Thầy, Trò... Nguyễn Hoàngvà những ngôi trường đã mất dạng hay mất tên.


Sau 1975, nhiều ngôi trường từ Cà Mau ra Quảng Trị đã bị mất dạng hay mất tên. Thầy cô, bạn cũ một thời vẫn còn đó. Nhưng trường xưa đâu rồi. Những nhân vật lịch sử đứng tên trường như Nguyễn Hoàng, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Gia Long, Petrus Ký... không còn mang giá trị cũ. Buổi giao thời, những nhân vật mới có khi chưa xanh mồ lịch sử đã vội lên thay. Tuy lịch sử sẽ có sự phán xét riêng và cuối cùng rất công bằng của nó, nhưng hiện tại, tên gọi ngôi trường cũ chẳng có mặt mày làm chứng, nên tất cả chỉ còn là tín hiệu của trái tim.Có nhiều câu hỏi về "chính danh" nổi lên. Như trường hợp trung học NGUYỄN HOÀNG sẽ được trình bày sau đây là một thí dụ điển hình trong muôn một.Với người Việt Nam, Nguyễn Hoàng là một tên gọi vượt lên trên danh tính nhất định thường tình của một con người. Tính cá nhân đã nhường lại cho tính đại chúng; hình ảnh nhân vật đơn lẻ đã chìm khuất sau bóng dáng của cộng đồng dân tộc. Nguyễn Hoàng được nhắc đến như một tín hiệu đến từ dòng lịch sử dựng nước hào hùng tiến về Nam.Với người dân Quảng Trị, Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ… , kể từ khi ngôi trường trung học đầu tiên của toàn vùng Quảng Trị và phụ cận được thành lập lấy tên là Nguyễn Hoàng, người dân bình thường, giới có học thức khoa bảng cũng như thế hệ trẻ Quảng Trị có thêm niềm tự hào về một “cơ sở văn hiến” ngay trên quê hương mình. Trước đó, học trò Quảng Trị sau khi học hết bậc tiểu học phải vào Huế học tiếp bậc trung học. Chỉ có những gia đình tương đối giàu có mới đủ sức lo cho con vào Huế học. Ngoài ra, đại đa số học sinh Quảng Trị ưu tú, không đủ điều kiện tài trợ “du học Huế” đành bó tay với cấp lớp tiểu học chỉ có trên quê hương mình, ấm ức nhận một “sở học” sơ đẳng vì hoàn cảnh bắt buộc !Bao nhiêu thế hệ học trò đi qua, Nguyễn Hoàng không còn là một danh xưng, một tên gọi bình thường hay “đại húy” của một nhân vật lịch sử đầu nguồn triều Nguyễn…, mà là một tín hiệu đến từ trái tim. Nguyễn Hoàng đối với Quảng Trị mang cùng ý nghĩa với Sorbonne ở Pháp, Cambridge ở Anh, Havard, Berkeley, Stanford ở Mỹ. Đấy là danh vang của nhũng cơ sở giáo dục của địa phương đã đào tạo nhiều nhân tài làm mọi người tự hào và hãnh diện.Sau năm 1975, trường Nguyễn Hoàng bị xóa tên. Đấy là một sự “phí phạm” dáng vẻ cao đẹp của bề dày lịch sử. Người Âu Tây, nhất là người Mỹ “tiết kiệm” những tên gọi đã thành lịch sử, dẫu cho đấy là tên của những nhân vật một thời đã từng xông pha đánh trả, chống lại họ.Trên bình diện lịch sử, chúng ta thử nhận diện Nguyễn Hoàng là nhân vật có công hay có tội với thế đứng ở đâu và như thế nào trong dòng sử Việt.Nguyễn Hoàng là con trai thứ nhì của Nguyễn Kim. Nguyễn Kim nguyên là Tả vệ Ðiện tiền Tướng quân, tước An Thanh Hầu, trông coi đạo Thanh Hóa. Sau khi Mạc Ðăng Dung chiếm ngôi nhà Lê năm 1527, Nguyễn Kim trốn sang Ai Lao. Vua Ai Lao là Sạ Ðẩu cho ở đất Sầm Châu. Nguyễn Kim xây dựng Sầm Châu làm căn cứ địa, chiêu mộ quân sĩ, tìm cách khôi phục nhà Lê.Vào tháng giêng năm quý tỵ (1533), Nguyễn Kim tìm được người con út của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lúc đó 18 tuổi, lập lên làm vua tức vua Lê Trang Tông, mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê. Lê Trang Tông phong Nguyễn Kim làm Thượng phụ thái sư, tước Hưng Quốc Công, trông coi mọi việc trong triều về mặt đối nội cững như đối ngoại. Trịnh Kiểm là một tướng tài đã theo Nguyễn Kim. Nguyễn Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm và được vua Lê phong làm Dực Quận Công. Sau khi Nguyễn Kim từ trần, Trịnh Kiểm lên nắm quyền thay Nguyễn Kim và được vua Lê phong làm Ðô tướng, tiết chế thủy bộ quân, kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, rồi gia phong Thái sư, tước Lạng Quốc Công.Nguyễn Kim có hai con trai: con trưởng là Nguyễn Uông được phong Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng được phong Ðoan Quận Công, cùng giữ binh quyền đi đánh giặc. Trịnh Kiểm nghi kỵ và sợ Nguyễn Uông cùng Nguyễn Hoàng tranh quyền với mình, quyết định ra tay trước và giết Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng dự đoán trước sau ông cũng bị hại, ông nhờ chị là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm xin cho em vào trấn thủ Thuận Hoá, lại ngầm sai người đến vấn kế Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì Trạng chỉ vào hòn non bộ, nói: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một giải Hoành Sơn dung thân muôn đời). Hiểu được nghĩa lý thâm sâu ở đằng sau câu nói đầy ẩn dụ, Nguyễn Hoàng xin vua Lê vào Nam và được Vua Lê thuận cho vào phương Nam trấn thủ miền địa đầu của đất nước. Trở về Thanh Hóa, ông đem theo các thủ hạ thân tín, đồng hương và các đồng tộc vào Quảng Trị, lập Dinh ở Ái Tử sau gọi là Chính Dinh, thủ phủ của phương Nam.Có thể nói Quảng Trị là “Quê Hương Ân Nghĩa” với Nguyễn Hoàng; và ngược lại thì nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng cũng là ân tổ khai canh ra đất Quảng Trị. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì kể từ khi đặt chân lên dải đất phía Nam của dãi Hoành Sơn, Nguyễn Hoàng chăm lo mở mang và phát triển về mọi mặt của vùng đất nầy. Đặc biệt là hai trấn Thuận, Quảng có một sự vươn lên về nhiều mặt mà cao nhất là pháp lý và đạo lý: “Luật lệ nghiêm tế mà khoan dung, ân huệ nhiều hơn hơn hình phạt. Bậc chăn dân xử phạt công bằng, phát huy và giáo hoá điều tốt, trấn áp kẻ hung ác. Dân trong hai trấn Thuận Quảng người người đều cảm tình, quý đức. Phong tục được đổi từ hủ tục thành mỹ tục; chợ đò không giành dựt, nói thách; nạn trộm cướp tiệt trừ, cổng ngoài không cần đóng. Khách thương nước ngoài đến buôn bán đông đảo, giá cả phải chăng, thuận mua vừa bán. Quân lệnh nghiêm túc, mọi người dân đều được hưởng an vui, hạnh phúc nên ra sức làm việc, chung lo xây dựng.***Lịch sử con người và thế giới là một dòng thay đổi liên tục: Đổi đất, đổi đời và đổi tên. Sự đổi tên công cộng thường xẩy ra khi hoàn cảnh chính trị và địa lý thay đổi. Thông thường, có ba mô thức thay đổi danh xưng: (1) Hiện đại hóa cho thích hợp với nhu cầu và hoàn cảnh; (2) Xoá tên như một sự phủ nhận, trừng phạt; và (3) ghi tên như một sự ghi nhận, vinh danh. Thế nhưng, trong lịch sử thay tên đổi họ xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới xưa nay được thể hiện mạnh mẽ và quyết liệt nhất trong hai trường hợp: Vứt bỏ để trừng phạt hay nêu lên để vinh danh! Trường hợp không có sự bó buộc của hai nhu cầu "bỏ" hay "chọn" vì bị xung đột hiển nhiên về mặt chính trị, tôn giáo hay xã hội, giới cầm quyền xã hội khôn ngoan và các nhà lãnh đạo chính trị bản lĩnh sẽ nêu cao tính lịch sử và truyền thống lâu dài lên trên nhu cầu chính trị nhất thời. Thái độ chọn lựa và hành xử của người Mỹ về việc đổi tên trong lịch sử 300 năm lập quốc của họ là một thí dụ điển hình đáng làm cho người dân và giới lãnh đạo nói chung suy nghĩ.Ham thay đổi như người Mỹ, khoái bắn súng như cao bồi Texas, đại ngôn và thích dùng danh từ đao to búa lớn quảng cáo như giới chính trị và kinh doanh tài nguyên ở California thế mà vẫn hành xử rất hài hòa và mã thượng khi thắng trận. Sau khi chiếm được đất đai từ tay người Pháp, người Mễ Tây Cơ, người Da Đỏ rồi, họ vẫn để nguyên tên những thành phố, dòng sông, rặng núi, di tích, trường học mang tên Tây, tên Mễ, tên người Da Đỏ vốn có từ muôn năm cũ. Thậm chí, có nhiều khi đấy lại là tên của kẻ cựu thù cũng chẳng phải là điều đáng quan ngại vì lịch sử đã sang trang và phán xét công bằng. Trường hợp tướng Robert E. Lee của Mỹ trong thời kỳ Nội Chiến (1861-65) là một thí dụ. Lee bị nhiều sử gia phê phán là “xâm lược” miền Bắc, là kẻ ly khai. Nhưng tên ông vẫn được giữ trên các cơ sở và con đường xứ Mỹ. Đi từ thành phố Baton Rouge (tiếng Pháp), Del Paso, Los Angeles, San Francisco (tiếng Mễ Tây Cơ); qua những vùng Cheyennes, Apache, Chippewas (tiếng Da Đỏ) người ta sẽ thấy ngay sự mềm dẽo “giữ tên như giữ chứng tích lịch sử” của giới cầm quyền Mỹ. Chính nội dung và lịch sử làm vinh danh cho cái tên chứ không phải điều ngược lại! Bởi vậy, trả lại tên NGUYỄN HOÀNG và những tên thân yêu cho ngôi trường xưa sẽ là một việc làm rất có ý nghĩa mang đậm tính văn hóa, phát huy tinh thần giáo dục và kết hợp hài hòa về tâm lý.Một thế hệ đàn anh – thế hệ Chiến Tranh Việt Nam… tri thiên mệnh, cổ lai hy đủ cả – đang rủ nhau về đất và sẽ đi hết chặng đường đời không còn xa lắm. Thế hệ đàn em, thế hệ Hậu Chiến Tranh Việt Nam, đang vươn lên lãnh đạo xã hội. Bên cạnh của cải vật chất mà xã hội và đất nước đang có trước mắt, tuổi trẻ Việt Nam cũng tha thiết cần những sức mạnh và gia tài phi vật thể. Đó là truyền thống lâu dài, là di sản truyền đời, là lịch sử kế thừa liên tục của nhiều thế hệ. Mong rằng, sẽ có một ngày, thế hệ đàn anh được dự "lịch sử 100... năm của trường Nguyễn Hoàng và những mái trường xưa" đã mất tên. Trước khi trao lại một bầu trời xanh, một vầng mây ấm và dòng lịch sử luân lưu cho thế hệ đàn em, sẽ còn có một sự đền bù trở lại cho… nỗi niềm mất tên.

Sacramento, ngày Father’s Day - 2008

Trần Kiêm Đoàn

Tuesday, December 7, 2010

Thầy Trần kiêm Đoàn chia buồn với anh Võ Quê

Võ Quê thân,
Rất xúc động nghe tin Tiểu Kiều vừa qua đời tại Huế. Đây là một sự mất mát quá lớn đối với Võ Quê, các cháu và niềm xót xa chung đối với đại gia đình Nguyễn Hoàng.
"Sinh hữu hạn, tử vô kỳ"; nhân gian không ai tránh khỏi.
Với sự nhạy cảm của một nhà thơ tài hoa, Võ Quê càng cảm nhận sâu hơn lẽ vô thường của cuộc sống để tìm chút an lạc trong nỗi buồn vĩnh biệt.
Xin thành thật chia buồn với Võ Quê cùng gia đình và chung góp lời nguyện cầu cho hương linh của người vừa quá cố được sớm siêu thoát về cõi bình an.
Thành tâm chia buồn.
Anh Trần Kiêm Đoàn và Gia đình.
Sacramento, California US